Nét đặc trưng trong trang phục của người phụ nữ miền sông nước Cửu Long ngoài chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn choàng cổ, người ta không thể không nhắc đến chiếc nón lá. Nón lá không chỉ đơn thuần dùng để che nắng, che mưa mà hơn thế nữa, đó là nét riêng, cái duyên của người phụ nữ. Và đâu đó ở miền Tây, vẫn còn những xóm nghề, những con người đang âm thầm giữ hồn cho nón lá. Và để chằm (ngôn ngữ địa phương) nên một chiếc nón lá đẹp phải trải qua rất nhiều công đoạn.
Nguyên liệu chính để chằm nón là lá huế và trúc. Đây là
điểm khác biệt của nón miền Tây so với nón ở một số vùng miền khác vốn được làm
từ lá buông và dây thao. Nguồn lá làm nón được vận chuyển từ Huế vào tận trong
xóm chằm nón. Còn khuôn nón lá được làm từ cây trúc. Nguồn nguyên liệu này thì
không bao giờ thiếu do tre trúc trong vườn nhà luôn
xanh tốt quanh năm.
Người dân miền Tây đi đốc trúc làm nan. Ảnh: Thế AnhLá huế - nguyên liệu không thể thiếu của nón lá miền Tây. Ảnh: Thế Anh
2
Vót nan trúc
Khi
nào có nhu cầu chằm nón, người ta cần đốn trúc cho vừa đủ số lượng làm. Trúc được
chọn làm khuôn nón vì tính dẻo dai, dễ uốn cong nhưng lại bền chắc. Trúc vót
thành từng nan trúc có kích thước lớn nhỏ khác nhau để làm khuôn nón.
Chẻ trúc thành nan. Ảnh: Thế Anh
3
Làm khuôn nón
Muốn chằm nón phải có cái khung chằm hình chóp,
kích thước bằng chiếc nón lá, được gọi là cái mô nón hay khuôn nón. Vào những
thập niên 80 trở về trước, nón lá được làm từ khuôn có 15 vành. Sau này, người tiêu
dùng lại chuộng nón bài thơ có 16 vành. Vì lẽ đó, người dân miền Tây cũng nhanh
chóng thay đổi cách làm, sử dụng khuôn nón 16 vành để đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng.
Làm khuôn nón là công đoạn khó nhất. Ảnh: Thế AnhKhuôn nón thành phẩm. Ảnh: Thế Anh
4
Kiềng vàng lên khuôn nón
Tiếp đến là công đoạn kiềng vành lên bộ khuôn nón. Khác với
cách làm nón ở những nơi khác là vừa chằm, vừa gác nan lên khuôn để làm sườn
nón lá. Ở miền Tây quê tôi, người dân đã quen với cách làm kiềng vành lên khuôn
nón trước rồi mới chuyển sang kết lá. 16 chiếc vành làm từ nan trúc với kích cỡ
khác nhau được kiềng lên mô nón vô cùng khéo léo.
Kiềng vành lên toàn bộ khuôn nón. Ảnh: Thế AnhMột chiếc nón miền Tây thường có 16 vành. Ảnh: Thế Anh
5
Xoay lá trên khuôn nón
Công đoạn đòi hỏi sự tỉ
mỉ và cẩn thận nhất là xoay lá trên khuôn. Người làm nón phải có kinh nghiệm
mới xoay lá đều, đẹp. Đầu tiên là xoay lớp lá bên trong trước, rồi đến lớp giấy
báo hoặc lá chuối, cuối cùng là xoay lớp lá bên ngoài. Sau khi xoay đầu nón
xong, người ta dùng một cái vành, chụp lên bên ngoài khuôn nón để giữ cho lá
nằm cố định, giúp người thợ chằm được dễ dàng.Tỉa lá gọn gàng trước khi xoay lá. Ảnh: Thế AnhNgười dân đang xoay lá trên khuôn nón. Ảnh: Thế Anh
6
Xuống kim chằm nón
Hoàn thành công đoạn xoay
lá trên khuôn, người làm bắt đầu chằm nón. Công đoạn này tương đối dễ. Chỉ cần
mũi kim đều, khoảng cách giữa các mũi kim vừa phải, không xa quá là đã đạt yêu
cầu. Tùy theo khoảng cách của từng mũi kim mà người ta phân biệt ra nón thưa và
nón dày. Chọn mua một chiếc nón đẹp trên cở sở chiếc nón ấy có bền hay không,
đan dày hay thưa, vành vót vừa hay nhỏ.
Xuống kim đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mẩn. Ảnh: Thế AnhChằm nón thường có nhiều người làm. Ảnh: Thế Anh
7
Nức vành và buộc quai nón
Công đoạn cuối cùng là
nức vành. Người làm sẽ vót một đến hai cọng nan trúc có thân dẹp gọi là cây
tiến, cặp vào vành nón số 16 để khi nức, vành nón được tròn và chắc chắn, nón
sử dụng được lâu bền. Chỉ màu được buộc khéo léo vào hai bên vành nón để móc
quay nón. Đến lúc này thì nón có thể mang ra sử dụng hoặc đem bán cho các chợ
đầu mối.
Nức vành là công đoạn cuối cùng. Ảnh: Thế AnhNhững chiếc nón được buộc chỉ màu khéo léo. Ảnh: Thế Anh
Cuộc sống hiện đại, biết bao kiểu nón thời trang ra đời. Thế nhưng, chiếc nón lá giản dị ngày nào vẫn được nhiều người sử dụng vì tính tiện lợi, giá thành lại rẻ. Trên đồng ruộng mênh mông, dọc sông dài biển rộng, đều có sự hiện diện chiếc nón lá miền Tây ngàn đời không đổi. Đó là động lực cho những người làm nghề tiếp tục gắn bó với nghề và chằm nên những chiếc nón lá tinh xảo cho đời.